Trang chủ Viện
Thạch Lam
Ảnh: Vũ Ngọc Phan / 武玉璠 (author of the book) · Public domain · Wikimedia Commons · đã thu nhỏ

Thạch Lam

1910–1942

Tên gọi khác
Nguyễn Tường Vinh, Việt Sinh
Nơi sinh
Hà Nội theo Wikidata
Lĩnh vực
Văn học

Tiểu sử

Thạch Lam (tên thật: Nguyễn Tường Vinh; 7 tháng 7 năm 1910- 27 tháng 6 năm 1942) là một nhà văn Việt Nam thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông là em ruột của hai nhà văn khác cũng trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ.

Tiểu sử

Thạch Lam sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 tại Thái Hà Ấp, huyện Hoàn Long (nay là phường Đống Đa), thành phố Hà Nội, quê gốc tại phường Hội An, thành phố Đà Nẵng trong một gia đình công chức gốc quan lại, thuở nhỏ chủ yếu sống ở quê ngoại, phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Thạch Lam là người con thứ 6 trong gia đình 7 người con (6 trai, 1 gái). Nguyên tên ban đầu của ông do cha mẹ đặt là Nguyễn Tường Vinh. Đến năm Thạch Lam 15 tuổi, thấy mình học chậm, cần tăng thêm tuổi để học "nhảy" 4 năm, ông làm lại khai sinh thành Nguyễn Tường Lân.

Cha là Nguyễn Tường Nhu (1881-1918), thông thạo chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông phán Tòa sứ, thường được gọi là Thông Nhu hay Phán Nhu. Mẹ là bà Lê Thị Sâm, là con gái đầu lòng cụ Lê Quang Thuật (tục gọi Quản Thuật), người gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở huyện Cẩm Giàng. Bấy giờ tri huyện Cẩm Giàng là ông Nguyễn Tường Tiếp (tục gọi là Huyện Giám, ông nội Thạch Lam), quê gốc ở Quảng Nam, có con trai là Nguyễn Tường Nhu đã đến tuổi lấy vợ, mới cho người mai mối hỏi cô Lê Thị Sâm về làm dâu dòng họ Nguyễn Tường.

Ông bà Phán Nhu lấy nhau hơn chục năm, rời từ ấp Thái Hà về số 10 Hàng Bạc, Hà Nội, rồi hết về quê Cẩm Giàng lại theo con cả Nguyễn Tường Thụy ở Tân Đệ, Thái Bình. Do buôn bán ở Thái Bình được một năm chẳng được như ý, bà Phán Nhu lại đưa cả gia đình về Hà Nội. Khi vợ Nguyễn Tường Thụy xin ra ở riêng, bà lại về Cẩm Giàng. Người bạn cân gạo ngày trước là bà cả Hội nợ bà Nhu 60 đồng Đông Dương từ trước, trừ tiền nợ bằng hai mẫu đất cho bà Phán Nhu. Thế là bà cho đào ao, đắp nền, làm nhà gỗ, lợp rạ, cột vuông, bốn chung quanh hiên rộng, gọi là Nhà ánh sáng.

Ngày 31 tháng 8 năm 1917, cha của Thạch Lam sang Sầm Nưa, Lào làm thông phán Tòa sứ, được đem theo vợ để buôn bán mưu sinh nhưng chỉ tám tháng sau, ông bạo bệnh qua đời. Một mình nơi xa xứ, lo chôn cất chồng xong, bà Nhu trở về Việt Nam đi hết 12 ngày đường bộ và đường thủy, gian nguy vô ngần. Mãn tang chồng một năm, bà cùng bốn người thân lại sang Lào để mang hài cốt ông về nước đặt mộ bên bờ ao thuộc làng La A, xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng.

Sau khi chồng mất, bà tảo tần khuya sớm đi về làng quê cân gạo nhưng không đủ sống, đành nấu thuốc phiện, biết là hiểm nguy có thể bị người Pháp bắt bỏ tù bất cứ lúc nào nhưng để các con học hành thành đạt, bà vẫn tảo tần lo cho 7 người con ăn học. Sau khi các con đều đã có gia đình, bà xuất gia đến tu ở Đào Xuyên, Bối Khê, Hà Nội.

Khi biết tin Hoàng Đạo đột tử ở ga Thạch Long (Trung Quốc) năm 1948, bà đã làm lễ cầu siêu cho con, rồi vào Sài Gòn, tu ở chùa Xá Lợi cho đến năm 1960. Ít lâu sau bà viên tịch tại đó, trước ngày Nhất Linh mất (7 tháng 7 năm 1963).

Thời thơ ấu

Cha ông mất sớm, mẹ ông phải một mình buôn bán nuôi mẹ chồng và bảy người con. Lúc nhỏ, ông chủ yếu sống ở quê ngoại.

Nội dung theo giấy phép CC BY-SA 4.0, lấy từ bài “Thạch Lam” trên Wikipedia tiếng Việt, có chỉnh sửa (rút gọn). Xem bài hiện tại.

Tác phẩm tiêu biểu

  • Gió lạnh đầu mùa (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1937)
  • Nắng trong vườn (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1938)
  • Ngày mới (truyện dài, Nhà xuất bản Đời nay, 1939)
  • Theo dòng (bình luận văn học, Nhà xuất bản Đời nay, 1941)
  • Sợi tóc (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1942)

Danh sách theo bài Wikipedia tiếng Việt (CC BY-SA 4.0), chưa đầy đủ.

Năm sinh, năm mất, nơi sinh, tên gọi khác: Wikidata Q10826167 (CC0), đối chiếu với Wikipedia tiếng Việt. Lấy ngày 30/09/2026.

Ảnh: Vũ Ngọc Phan / 武玉璠 (author of the book) · Public domain · Wikimedia Commons · đã thu nhỏ

Về danh mục