Trang chủ Viện
Tản Đà
Ảnh: The original uploader was Xiaoao at Vietnamese Wikipedia. · Public domain · Wikimedia Commons · đã thu nhỏ

Tản Đà

1889–1939

Tên gọi khác
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Khắc Hiếu
Chữ Hán
傘沱
Lĩnh vực
Văn học

Tiểu sử

Tản Đà (chữ Hán: 傘沱, tên thật là: Nguyễn Khắc Hiếu (阮克孝), 19 tháng 5 năm 1889 – 7 tháng 6 năm 1939) là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Tiểu sử

Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Bất Bạt, thành phố Hà Nội), nguyên quán tại làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là phường Định Công, thành phố Hà Nội).

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế (阮名繼), do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền (流氏賢) có nghệ danh Nhữ Thị Nghiêm (汝氏蚦), là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thiếu niên

Thời niên thiếu của Tản Đà trải qua nhiều bấp bênh. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Thời kỳ vinh hiển

Từ 1915 đến 1926 là những năm tháng đắc ý nhất của Tản Đà. Năm 1915, cuốn sách đầu tiên của Tản Đà được xuất bản, gây tiếng vang lớn, đó là tập thơ "Khối tình con I".

Nội dung theo giấy phép CC BY-SA 4.0, lấy từ bài “Tản Đà” trên Wikipedia tiếng Việt, có chỉnh sửa (rút gọn). Xem bài hiện tại.

Năm sinh, năm mất, nơi sinh, tên gọi khác: Wikidata Q7862839 (CC0), đối chiếu với Wikipedia tiếng Việt. Lấy ngày 30/09/2026.

Ảnh: The original uploader was Xiaoao at Vietnamese Wikipedia. · Public domain · Wikimedia Commons · đã thu nhỏ

Về danh mục