Trang chủ Viện
Nguyễn Đình Chiểu
Ảnh: Không rõ tác giả · Public domain · Wikimedia Commons · đã thu nhỏ

Nguyễn Đình Chiểu

1822–1888

Tên gọi khác
Đồ Chiểu
Chữ Hán
阮廷炤
Nơi sinh
Gia Định theo Wikidata
Lĩnh vực
Văn học, Sử học, tư tưởng

Được UNESCO vinh danh và cùng kỷ niệm 200 năm ngày sinh (theo TTXVN)

Tiểu sử

Nguyễn Đình Chiểu (chữ Hán: 阮廷炤; 1 tháng 7 năm 1822 – 3 tháng 7 năm 1888), tục gọi là cụ đồ Chiểu khi dạy học, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ và Hối Trai, là nhà thơ, nhà giáo và thầy thuốc Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19. Trong số các sáng tác của ông có Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu và Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, cùng thơ Đường luật, văn tế và các tác phẩm gắn với cuộc kháng Pháp ở Nam Kỳ.

Xuất thân trong một gia đình nhà nho ở Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu từng học tại Huế và đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định năm 1843. Năm 1848, khi đang ở Huế chờ khoa thi tiếp theo, ông nhận tin mẹ mất, bỏ việc thi cử để trở về Nam chịu tang; trên đường về, ông lâm bệnh rồi bị mù. Sau đó, ông dạy học, hành nghề thuốc và sáng tác. Khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định năm 1859, gia đình ông chuyển về Cần Giuộc, rồi đến Ba Tri sau Hòa ước năm 1862. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, chữa bệnh và viết thơ văn liên quan đến cuộc kháng chiến của người dân Nam Kỳ, trong đó có các tác phẩm về nghĩa sĩ Cần Giuộc, Trương Định, Phan Tòng và những người tử trận ở Lục tỉnh.

Lục Vân Tiên được lưu truyền rộng rãi ở Nam Bộ và có bản dịch tiếng Pháp từ thế kỷ 19; về sau, tác phẩm được dịch sang nhiều ngôn ngữ và chuyển thể qua tranh, sân khấu, điện ảnh và truyền hình. Hình thức nói thơ Vân Tiên gắn với tác phẩm tiếp tục tồn tại trong đời sống văn hóa Nam Bộ và năm 2025 được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Năm 2021, Đại hội đồng UNESCO thông qua việc cùng Việt Nam kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu trong chương trình kỷ niệm giai đoạn 2022–2023; Mộ và Khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu tại Ba Tri là di tích quốc gia đặc biệt; tên ông được đặt cho nhiều đường phố và trường học.

Cuộc đời

Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822). Trần Hữu Chất ghi nơi sinh của ông là quê mẹ ở làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Đặng Văn Tuấn ghi địa danh nơi sinh là thôn Tân Khánh, Gia Định.

Nguyễn Đình Chiểu xuất thân trong gia đình nhà nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, quê ở làng Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông Huy có vợ cả là Phan Thị Hữu; hai người có hai người con, một trai và một gái. Khoảng năm 1820, Nguyễn Đình Huy làm thư lại ở Văn hàn ty dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt. Tại Gia Định, ông có người vợ thứ là Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới. Bà sinh bảy người con, gồm bốn trai và ba gái; Nguyễn Đình Chiểu là con trai đầu lòng.

Học tập và khoa cử

Thuở bé, Nguyễn Đình Chiểu được mẹ nuôi dạy. Phần tiểu sử trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, dựa vào những ghi chép từ lời kể của con trai ông là Nguyễn Đình Chiêm, cho biết mẹ ông thường kể truyện dân gian và đưa ông đi xem hát ở Vườn Ông Thượng, tức khu vực Tao Đàn ngày nay. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo học với một thầy đồ ở làng. Tư liệu không thống nhất về người thầy này. Đặng Văn Tuấn cho rằng Nguyễn Đình Chiểu học chữ Hán với ông nghè Chiêu, một học trò của Võ Trường Toản; phần tiểu sử trong Toàn tập lại ghi người thầy ở làng là học trò của ông nghè Chiêu, còn ông nghè Chiêu là môn sinh của Võ Trường Toản.

Nội dung theo giấy phép CC BY-SA 4.0, lấy từ bài “Nguyễn Đình Chiểu” trên Wikipedia tiếng Việt, có chỉnh sửa (rút gọn). Xem bài hiện tại.

Năm sinh, năm mất, nơi sinh, tên gọi khác: Wikidata Q7022804 (CC0), đối chiếu với Wikipedia tiếng Việt. Lấy ngày 30/09/2026.

Ảnh: Không rõ tác giả · Public domain · Wikimedia Commons · đã thu nhỏ

Về danh mục