Cao Bá Quát
1808–1855
- Chữ Hán
- 高伯适
- Nơi sinh
- Gia Lâm theo Wikidata
- Lĩnh vực
- Văn học
Tiểu sử
Cao Bá Quát (chữ Hán: 高伯适; 1808 – 1855), biểu tự Chu Thần (周臣), hiệu Mẫn Hiên (敏軒), Cúc Đường (菊堂), là quân sư trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam.
Thân thế
Ông sinh năm 1808 tại thôn Phú Thị, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay là xã Gia Lâm, thành phố Hà Nội).
Có ý kiến khác nhau về tên tự của Cao Bá Quát. Theo GS. Dương Quảng Hàm thì Cao Bá Quát có hiệu là Chu Thần (周臣). Theo các tác giả gần đây như GS. Nguyễn Lộc, GS. Vũ Khiêu, GS. Thanh Lãng, GS. Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá Thế ... thì tự của ông là Chu Thần, còn Mẫn Hiên (閔軒) chỉ là hiệu hoặc là biệt hiệu. Theo gia phả của dòng họ Cao ở Phú Thị: "Thân sinh ra Cao Bá Quát tên là Cao Huy Tham, có tên tự là Bộ Hiên. Ông nội Cao Bá Quát có tên tự là Ngọ Hiên. Cao Bá Quát có tên tự là Mẫn Hiên, lúc sinh thời, ông thường dùng các bút hiệu như: Chu Thần, Cao Chu Thần, hoặc Cao Tử".
Ông nội Cao Bá Quát tên là Cao Huy Thiềm (1761-1821) sau đổi là Cao Danh Thự, một danh y nổi tiếng trong vùng. Thân sinh Cao Bá Quát tên là Cao Huy Sâm (1784-1850) sau đổi là Cao Huy Tham, cũng là một thầy thuốc giỏi. Cao Bá Quát là em song sinh với Cao Bá Đạt, là chú của Cao Bá Nhạ và là ông tổ của cháu nội đời thứ 7 Cao Bá Hưng.
Nội dung theo giấy phép CC BY-SA 4.0, lấy từ bài “Cao Bá Quát” trên Wikipedia tiếng Việt, có chỉnh sửa (rút gọn). Xem bài hiện tại.
Tác phẩm tiêu biểu
- Cao Bá Quát thi tập
- Cao Chu Thần di thảo
- Cao Chu Thần thi tập
- Mẫn Hiên thi tập
Danh sách theo bài Wikipedia tiếng Việt (CC BY-SA 4.0), chưa đầy đủ.