Trang chủ Viện

Hoàng Lê nhất thống chí — Ngô gia văn phái

XXI (phần 2)

Chương 21 / 21

Năm thứ tám hiệu Gia-khánh nhà Thanh là năm quí-hợi, tức năm thứ hai hiệu Gia-long bên ta, nhà Tây-sơn đã bị diệt, Quốc-triều sai sứ sang Tàu dâng biểu trần-tình và xin phong vương. Các người bề tôi nhà Lê lưu-lạc ở Tàu nghe thấy tin đó, bèn vào bẩm với « các-thần », xin đem linh-cữu vua cũ và Thái-hậu về nước an-táng. Viên các-thần đem những lời ấy tâu lên. Vua Thanh ưng ý, liền hạ chiếu-chỉ cho đưa vua cũ An-Nam về nước, và cho các người bề tôi tòng-vong đều được về quê, lại bắt quan lại cấp bạc cho hết mọi người.

Viên tả-lĩnh được mười lạng, viên kiêu-kỵ được tám lạng, từ lĩnh-viên trở xuống, kể cả đàn ông đàn bà, người lớn năm lạng, trẻ con ba lạng; và bắt tỉnh-thần ở dọc đường tự-cấp giúp-đỡ, đưa ra khỏi ải.

Tháng giêng năm ấy, các người tòng-vong ra mở quan-tài vua Lê, da thịt nát hết, duy có trái tim không nát, sắc máu hãy còn hồng-hồng. Tính từ khi quàn đến bây giờ vừa mười hai năm. Mọi người trông thấy đều lấy làm lạ và đều than-thở ngậm-ngùi..!

Rồi mở đến hai quan-tài Thái-hậu và Nguyên-tử, nhặt lấy hài-cốt, Di-hài của Nguyễn Viết-Triệu và Nguyễn Văn-Quyên cũng được bốc đem về nước. Mười ba tháng tám thì về đến ải.

Hoàng-phi Nguyễn Thị Kim nghe thấy tin đó, liền từ Kinh-bắc lên ải để đón linh-cữu. Ngay từ bữa ấy, Hoàng-phi bỏ không ăn cơm, mỗi ngày chỉ húp lưng chén cháo, gục bên linh-cữu gào khóc rất thảm.

Ngày hai mươi ba tháng tám, về đến Thăng-long, các quan dựng tòa tế-cung ở nhà Diên-tự công, và đưa linh-cữu vua Lê vào đó, Hoàng phi cả ngày chỉ ăn độ vài gióng mía.

Ngày 12 tháng chạp. các quan thay hài-cốt vua Lê ở quan-tài sang một chiếc tiểu, thấy trái tim vẫn còn y-nguyên. Tế xong, Hoàng-phi đến tận trước án khóc rất thảm-thiết, rồi bảo Diên-tự-công rằng:

— Ta nhẫn-nhục ở nơi thôn-quê kể đã mười lăm, mười sáu năm trời, không phải không có ngày nào chết được. Chỉ vì Thái-hậu, vua ta, con ta vẫn ở bên Tàu, âm-tín không thông, còn mất không rõ, nên ta còn đợi. Nay Thái-hậu và vua ta đã mất, con ta cũng chết, linh-giá đã về nước nhà, thế là việc ta xong rồi, ta nên chết theo, để xuống hầu-hạ sơn-lăng mới phải.

Rồi Hoàng-phi liền uống thuốc độc tự-tử.

Xa gần nghe chuyện, ai cũng thương xót, sứ Tàu thấy nói cũng phải than-thở khen ngợi.

Qua ngày 13, các quan mới dùng quan-quách, khâm liệm thi-thể Hoàng-phi, Rồi ngày 28, đưa các linh-giá xuống thuyền. Tới ngày 24 tháng một, mới đến Thanh-hoa, các quan làm lễ ninh-lăng, an-táng vua Lê; còn Thái-hậu Hoàng-phi và Nguyên-tử thì đều phụ-táng cạnh lăng Hiển-tôn trên núi Bàn-thạch. Nguyễn Viết-Triệu và Nguyễn Văn-Quyên cũng được tùy-táng ở đó.

Từ khi linh-cữu vua Lê về đến Nam-quan, Duy-Khang bái-biệt ở trước quan-tài, rồi đi về nẻo Lạng-sơn.

Lê-Hân vào đến Thanh-hoa thì bị bệnh chết. Vợ Hân là người Tàu đưa quan-tài chồng về tại quê chồng ở làng Nộn-hồ, huyện Nam-đường, trấn Nghệ-an, tìm họ nhà chồng giao cho an-táng. Rồi nàng ở đó không về Tàu, nuôi người cháu họ của Hân làm con nuôi, thủ-tiết đến năm tám mươi mới mất.

Trong bọn tòng-vong, ai về quê nấy, duy có Trịnh-Hiến lại ra làm quan với nhà Nguyễn, rồi sau về làng, vì việc tài-sắc, bị kẻ cừu-gia giết chết.

Sau khi an-táng Hoàng-phi, cả nước và người Tàu đều khen là bậc tiết-nghĩa. Bắc-thành tổng-trấn là Thành Quận-công[12] bèn đem việc đó tâu về trong triều. Vua Gia-long có sai lập đền ở quê Hoàng-phi là làng Tùy-hà trong huyện Lang-tài trấn Kinh-bắc, để thờ Hoàng-phi, lại có ban cấp ruộng tế và tha thuế cho cả làng đó để cung về việc hương-đăng thờ cúng, và có lập bia ghi rõ tiết-hạnh của Hoàng-phi.

HẾT

Cùng bạn đọc.

Hoàng Lê Nhất thống bằng chữ Hán không có bản in. Cuốn sách mà tôi đã dùng để dịch tập này lại là bản sao, không phải bản chính của Ngô-gia văn phái. Bởi sự sao chép cẩu-thả, nên bản sao đó còn có nhiều chỗ lầm lộn. Tuy đã hết sức cân-nhắc so sánh nhưng tôi không dám chắc rằng trong bản dịch này đã khỏi sai xuyễn, nhất là những chữ thuộc về tên đất tên người.

Vậy mong các bạn đọc, nếu thấy chỗ nào sai-lộn, viết thư về nhà xuất-bản mà chỉ giáo cho, để khi tái-bản sửa lại, tôi rất cảm ơn.

Dịch giả

Chú thích của bản in

  1. Tức Nguyễn Văn-Thành. ↩